Thừa kế đất đai hợp pháp

Cập nhật | Số lượt đọc: 1417

Thưa luật sư, Tôi có một câu hỏi về chia di sản thừa kế đất đai - Tôi không biết phải chia thế nào ? Mong luật sư tư vấn giúp, vì câu hỏi này hơi dài mong luật sư đọc kỹ ạ. Nội dung cụ thể như sau:

 - Những người liên quan đến vụ việc:

+ ông nguyễn văn a ( người có tài sản thừa kế ông a đã chết năm 2009);

+ ông nguyễn văn b (người được nhận thừa kế từ ông a);

+ ông nguyễn văn c (ngườii mua lại 1 phần đất trong phần đất ông b được thừa kế từ ông a);

+ ông nguyễn văn đ (người cũng mua phần đất của ông b được thừa kế từ ông a); + bà e và bà f (người mua lại đất cuả ông d) ;

+ anh g là anh trai mình làm cò đất nội dung vụ việc: năm 1999 ông nguyễn văn b được ông nguyễn văn a viết 01 di chúc (chúc thư) để lại 1 tài sản sau khi chết (văn bản này hiện nay đã bị thất lạc). Tài sản là 01 mảnh đất rộng 872 m2 (trong đó 200m2 đất thổ cư+ 672 m2 đất vườn). Đến năm 2009 ông a chết năm 2002 ông b bán cho ông nguyen van c 100m2 đất ( 60m2 thổ cư + 40 m2 đất vườn) nhưng do ông a chưa chết nên ông b đã yêu cầu ông a viết giấy bán đất cho ông c năm 2011 ông b đã bán toàn bộ phần đất còn lại là 772 m2 đất( trong đó 140m2 đất vườn + 632m2 đất vườn) cho ông d năm 2015 ông d đã bán toàn bộ phần đất 772m2 cho bà e và bà f nhưng do bìa đỏ phần đất này vẫn là ông nguyễn văn a( đã chết năm 2009), giấy tờ thừa kế đã bị thất lạc nên việc bán đất bà e và bà f k thể làm đc bìa đỏ. Ông d đã tìm đến anh g( cò đất- anh trai tôi) tìm cách làm bìa đỏ cho bà e và bà f. Anh tôi đã nghĩ ra cách lập khống 1 biên bản thừa kế từ ông a cho người con gái ruột( thừa kế theo hàng) chư ký trên bien ban là do anh trai tôi tự tay ký khống. Sau này văn bản này lại được đem đến văn phòng công chứng và được công chứng ( khi công chứng k hề có mặt của những ng trong văn bản) sau khi hợp thức hoá việc thừa kế cho nguoi con gái ruột cua ong a, anh g( anh trai tôi) đa làm tiếp 1 hồ sơ mua bán đất từ người con gái ruột của ông a cho bà e và bà f. Mục đích để làm bìa đỏ cho bà e và bà f. Toàn bộ việc làm của anh trai tôi đều được thông qua với ông d đầu năm 2016, bà e và bà f đã làm đc bỉa đỏ nhưng trong bìa đỏ của bà e lại có phần đất của gia đình ông nguyễn văn c( 60m2 thổ cư+ 40m2 đất vườn). Ong c khong he biet viec nay. Khi ông lên làm bìa đỏ cho gia đình ông mới biết. . Ông c đã làm đơn trình báo đến cơ quan công an nhờ giải quyết,  

xin cho hỏi:

1. Việc ông b bán 100m2 đất cho ông c( ông a là người viết bán) có vi phạm pháp luật không. Sau khi ông a là người viết bán thì đến năm 2009 ông a chết ông a đc mở thừa kế tuy nhiên phần đất trong bản thừa kế đã bị thay đôi do bán bớt 100m2 đất cho ông c. Bản di chúc còn hiều lực pháp luật không.

2. Trong hồ sơ chuyênt nhượng quyền sử dụng đất có nhiều biên bản đo đạc đất đai của vp đia chính ubnd thành phố đều là chư ký khống. Tuy nhiên con dấu là thật và chữ ký của cán bộ địa chính là thật. Cán bộ địa chính có trách nhiệm gì không. Có vi phạm pháp luật gì không. Nếu có là vi phạm pháp luật gì.

3. Trong sự việc trên ông c, anh g( anh trai tôi), và cán bộ địa chính ai là ngươig phải chịu trách nhiệm. Đã vi phạm vào luật nào. Có dấu hiệu của hình sự không. Xử phạt như thế nào. Nếu chưa nội dung chưa cụ thể thì trường hợp nào sẽ có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

Tôi xin chân thành cảm ơn. .

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty luật Đại Kim

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  0948 596 388

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế của Công ty luật Đại Kim, vấn đề bạn quan tâm xin được trao đổi cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật đất đai năm 2013

Bộ luật dân sự năm 2015

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của luật đất đai

Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 1999

2. Luật sư tư vấn:

Vụ việc của bạn khá là phức tạp, nhiều thông tin song bạn cung cấp vẫn còn chưa đầy đủ làm cho chúng tôi khó phân tích. Chúng tôi xin lần lượt đưa ra quan điểm tư vấn cho từng câu hỏi như sau:

Vấn đề thứ nhất, việc ông b bán 100m2 đất cho ông c (ông a là người viết bán) không vi phạm pháp luật nghĩa là giao dịch này có hiệu lực pháp lý. Bởi lẽ, ông a là chủ sở hữu miếng đất đó việc ông a nhượng quyền sử dụng đất cho ông c mà không bị lừa dối, ép buộc. Như vậy, trong trường hợp của ông a đã được cấp giấy CNQSDĐ, đất không có sự tranh chấp, nằm trong thời hạn sử dụng đất và quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án nên được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông c. 

Sau khi ông a là người viết bán thì đến năm 2009 ông a chết ông a được mở thừa kế tuy nhiên phần đất trong bản thừa kế đã bị thay đổi do bán bớt 100m2 đất cho ông c. Bản di chúc vẫn còn hiệu lực pháp luật. Bởi vì theo khoản 3 điều 643 Bộ luật dân sự 2015 có quy định trường hợp ''nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.''

Điều 643: Hiệu lực của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Vấn đề thứ hai, trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nhiều biên bản đo đạc đất đai của văn phòng địa chính UBND thành phố đều là chữ ký khống. Tuy nhiên con dấu là thật và chữ ký của cán bộ địa chính là thật thì cán bộ địa chính vẫn phải trách nhiệm. Bởi vì, chiếu theo Điều 207 Luật đất đai 2013 quy định:

"Điều 207: Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai

1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai;
b) Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
c) Vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này"

Khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm cán bộ địa chính có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 285 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một  năm đến năm năm".

Vấn đề thứ ba, trong sự việc trên thì anh g là anh trai của bạn và cán bộ địa chính là người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản:

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Theo thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi, anh trai bạn có hành vi giả mạo chữ ký và làm giả di chúc để hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của ông a để lại, trái với ý chí của ông a, với hành vi giả mạo di chúc như trên thì bà e và bà f có thể bị truất quyền hưởng số di sản mà ông a đã để lại. 

Anh g có thể bị xử phạt vi phạm hành chính tại: Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Điều 28. Vi phạm quy định về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất mà không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận và việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị sai lệch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Phạt tiền từ trên 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả trong hồ sơ xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc phải làm thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này;

b) Buộc hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

Như vậy, chúng tôi xét thấy anh g chưa có đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy ''nếu nội dung chưa cụ thể thì trường hợp nào sẽ có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự ?'' Nếu đủ căn cứ anh g sẽ bị khởi tố theo: 

Điều 139 của Bộ luật Hình sự quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

 “1.  Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

 a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tich thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c)  Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi  triệu đồng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 0948 596 388 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự  - Công ty luật Đại Kim 

Thông tin liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI KIM

Địa chỉ: Phòng 5G, Tòa nhà Viện Chiến lược khoa học Bộ Công an, Số 5 Tú Mỡ, P. Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.
Tel: 024.8588.7555
Email: tuvanluat@luatdaikim.com
Web: www.luatdaikim - www.sangtentaisan.com - www.webthutuc.com

Có thể bạn quan tâm

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi có mua một thửa đất có nhà cấp 4 gắn liền với đất của một chị A ( thửa đất này chị A đang cho chị B thuê mở kinh doanh quán cà phê) ngaqyf đặt cọc tôi có đề nghị chị A phải thanh lý hợp đồng thuê nhà với chị B, trong quá trình mua tôi và chị A đã làm các thủ tục sang tên đổi chủ ( tuy nhiên chị A vẫn chưa thanh lý hợp đồng cho thuê nhà với chị B) đến tháng 11/2016 tôi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất mang t ...


Xử lý tranh chấp lối đi chung với hàng xóm

Kính chào Luật sư, Vui lòng tư vấn cho tôi về việc nhà hàng xóm kiện tranh chấp lối đi chung và họ yêu cầu nhà tôi trả lại lối đi chung mà họ cho là đất của họ. Sự việc như sau: Hiện nay tôi và nhà hàng xóm có sự tranh chấp về đất đai, đó là lối đi chung giữa những mảnh đất liền kề nhau không có lối đi nào khác ngoài lối đi đó (lối đi 1). Tôi có mua một mảnh đất hơn 20 năm trước, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên đó không có vị trí ...


Hướng dẫn khởi kiện tranh chấp đất đai

Thưa Luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi có lô đất ở Hợp pháp từ năm 1986 tại Khu tập thể Cơ quan, đến năm 1990 được Cơ quan và chính Quyền địa phương cho Xây dựng mới thành Hộ nhà Ống độc lập.Diện tích đất thực tế là 131 m2 Đến năm 2006 Chính quyền đã tự cắt xuống còn 103,6 m2 mà không hề có văn bản lý do nào ? Gia đình chúng tôi hỏi Khối họ giải thích miệng là mở đường Liên Khối và gia đình tôi cũng vui vẻ đồng thuận không khiếu kiện.


Hướng dẫn xác định tiền đất liên quan đến đất có nguồn gốc ngân sách nhà nước

Kính chào Quý công ty, Chúng tôi là doanh nghiệp cổ phần có tỷ lệ cổ phần của cổ đông nhà nước chiếm 61,41%. Chúng tôi có thành lập 01 công ty TNHH một thành viên do chúng tôi làm chủ sở hữu duy nhất để đầu tư một dự án trong khu kinh tế.


Thủ tục làm sổ đỏ cho nhà chung cư

Xin chào luật sư, tôi hiện ở long biên hn.Tôi có căn nhà chung cư Thành Công HN mua từ năm 2003 đến nay chưa có sổ đỏ, chỉ đóng tiền thuế đất nhà nước dưới tên ông Thanh (chủ nhà cũ, giờ đã mất và ko biết gd ở đâu ).


Dịch vụ nổi bật